Doanh Thương online

Thông tin doanh nghiệp

RSS
  • Sức khỏe
  • Biến chứng gây tử vong do suy tĩnh mạch ít được biết đến

Biến chứng gây tử vong do suy tĩnh mạch ít được biết đến

Suy giãn tĩnh mạch chân thuộc bệnh lý mãn tính và là nguyên nhân gây tử vong ít được biết đến. Khi biến chứng nặng, máu ứ trong khoang tĩnh mạch có thể tạo thành cục máu đông và chảy về tim gây thuyên tắc phổi dẫn tới tử vong.

Suy giãn tĩnh mạch chân mãn tính có nghĩa là tĩnh mạch chi dưới bao gồm hệ thống tĩnh mạch sâu nằm trong cơ, trong khi hệ thống tĩnh mạch nông nằm dưới da bị giãn và các van tĩnh mạch bị rối loạn chức năng. Tình trạng này dẫn đến tình trạng huyết động bất thường, khiến máu khó về tim trong khoang tĩnh mạch.

Máu ứ trong tĩnh mạch làm sưng chân và hình thành cục máu đông trong lòng mạch, nếu không được điều trị dứt điểm, cục máu đông có thể theo đường máu về tim và gây thuyên tắc phổi và có thể làm bệnh nhân tử vong. Có thông tin cho rằng áp lực tăng lên ở các tĩnh mạch chân bị giãn nặng có thể dẫn đến chảy máu khó điều trị và gây tử vong.

Biến chứng gây tử vong do suy tĩnh mạch ít được biết đến

Trên thế giới, tỷ lệ hiện mắc bệnh là 10-61% (tỷ lệ hiện mắc ở nam / nữ là 1/2 đến 1/4). Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng hầu hết tập trung ở độ tuổi trung niên. Trong đó, tần suất suy tĩnh mạch cao gấp 10 lần so với suy động mạch.

Theo số liệu của Việt Nam(*), ở nhóm bệnh nhân trên 50 tuổi, tỷ lệ suy tĩnh mạch chi dưới là 44,1%, tỷ lệ tĩnh mạch trở lại là 34,8%. Kiến thức về suy tĩnh mạch còn rất hạn chế: trước khi nghiên cứu, 92,5% bệnh nhân không biết suy tĩnh mạch, 91,8% bệnh nhân không điều trị.

Điều này cho thấy thực trạng bệnh suy tĩnh mạch ở Vietnam chủ yếu d0 người bệnh ít chú ý, không đi khám, bỏ qua triệu chứng... Đồng thời, chỉ 8,2% bệnh nhân được thăm khám và trị chữa hiệu quả bệnh suy giãn tĩnh mạch chân trong số đối tượng mắc phải, và hầu hết mọi người có sử dụng thuốc đặc trị bằng Tây y, can thiệp ngoại khoa hoặc sử dụng các loại thuốc Đông y.

- Nguyên nhân suy tĩnh mạch

Các nguyên nhân gây suy tĩnh mạch chi dưới mãn tính được chia thành 4 loại: Bẩm sinh, nguyên phát, thứ phát và một số nguyên nhân khó kiểm soát được.

Suy giãn tĩnh mạch bẩm sinh là do thành tĩnh mạch bất thường ảnh hưởng bởi yếu tố di truyền.

Suy giãn tĩnh mạch nguyên phát hay còn gọi là suy giãn tĩnh mạch vô căn: Ở nhóm này, ban đầu các tĩnh mạch giãn ra và dài ra, sau đó các van tĩnh mạch mất dần chức năng.

Suy tĩnh mạch thứ phát thường do viêm tĩnh mạch: Ở nhóm này, đầu tiên các van tĩnh mạch bị mất chức năng, sau đó các tĩnh mạch mới giãn nở và dài ra. Bao gồm: bệnh lý sau huyết khối; Loạn sản tĩnh mạch: Sự sản sinh dưới hoặc thiểu sản bẩm sinh của van tĩnh mạch, có hoặc không có lỗ rò tĩnh mạch; Áp lực huyết động, chẳng hạn như mang thai, chơi thể thao hoặc chấn thương...

Ngoài ra, còn một số nguyên nhân gây ra chứng suy tĩnh mạch chân mãn tính không rõ căn nguyên khác chưa được đề cập.

- Các biến chứng của giãn tĩnh mạch

Đầu tiên là biến chứng bất thường về huyết động: chân bệnh nhân phù nề, mu bàn chân đau dữ dội, chuột rút về đêm. Nghiêm trọng hơn, người bệnh có thể bị viêm tắc tĩnh mạch, chân nóng, mẩn đỏ, sưng tấy, các tĩnh mạch nông nổi rõ, viêm nhiễm.

Giai biến chứng nặng có thể tiến triển thành giãn nở toàn bộ hệ thống tĩnh mạch, các tĩnh mạch bị giãn rất lớn, tuần hoàn da bị ứ trệ và mất cân bằng dinh dưỡng ở bê, dẫn đến lở loét, nhiễm trùng khó điều trị. .

Một biến chứng rất nghiêm trọng và thường gặp của suy tĩnh mạch mạn tính chi dưới là hình thành các cục máu đông trong khoang tĩnh mạch. Thuyên tắc mạch có thể tách khỏi thành tĩnh mạch, đi vào tim và gây thuyên tắc phổi, đây là một biến chứng nguy hiểm đến tính mạng, nếu không được cấp cứu kịp thời có thể dẫn đến tử vong.

Ngoài ra, biến chứng xuất huyết d0 giãn tĩnh mạch cũng có thể gây tử v0ng ch0 người bệnh. Hiện tượng xuất huyết liên quan tới suy tĩnh mạch rất hiếm gặp và thường không được điều trị đúng cách kịp thời sẽ dẫn đến tử v0ng.

- Các yếu tố rủi r0:

Trên thực tế, không phải ai cũng mắc phải chứng giãn tĩnh mạch, do chỉ một số nhóm nguy cơ cao mới mắc phải, trong đó, di truyền là mẫu số chung của loại bệnh lý này. Do sự thay đổi của các enzym tr0ng mô liên kết, họ nhạy cảm hơn về mặt di truyền s0 với những bệnh nhân khác.

Do ảnh hưởng của nội tiết tố nữ và ảnh hưởng của thai nghén lên tĩnh mạch, một số ngành nghề đặc thù buộc phải ngồi lâu, mang vác nặng và phụ nữ thường bị nhiều hơn nam giới.

Do bị thừa cân, việc bị tăng cân quá mức cũng là một yếu tố nguy cơ vì nó làm giảm lực hút máu về phía trước và trào ngược lệch tâm do tăng áp lực ổ bụng.

Do uống thuốc tránh thai, và do nội tiết thay đổi trong chu kỳ thai nghen cũng là nguyên nhân gây bệnh

Biến chứng huyết khối tĩnh mạch và viêm tĩnh mạch do phẫu thuật, đặc biệt là loại phẫu thuật vùng phụ như sản phụ kh0a, tiết niệu và một số phẫu thuật khác như thạch ca0, cố định gãy xương... Tuy nhiên, gần đây, tầm quan trọng của yếu tố nguy cơ này đã giảm xuống.

Ngoài ra, người có chế độ ăn nhiều tinh bột, ít chất xơ, hay bị táo bón cũng dễ bị suy giãn tĩnh mạch.

- Chẩn đoán bệnh suy tĩnh mạch như thế nào?

Cơ sở chính để chẩn đoán bệnh là khám sức khỏe, bao gồm sự xuất hiện của giãn nở mạch máu, tĩnh mạch quanh co, đổi màu da, suy dinh dưỡng, loét và khối u máu.

Cảm nhận qua sờ nắn vùng suy giãn có thể cảm thấy cứng, sưng, tắc mạch và xác định nhiệt độ của da.

Cuối cùng, chẩn đoán được xác nhận chính xác nhất bằng cách siêu âm kiểm tra màu sắc của mạch máu, phương pháp này có thể xác định huyết động bất thường, tình trạng van tĩnh mạch, mức độ giãn tĩnh mạch và thuyên tắc trong lòng tĩnh mạch để có biện pháp xử lý tốt nhất.

(*) Nguyễn Thị Hải Yến và Phạm Nguyên Sơn (2015)

Theo BV TƯQĐ 108